SSI Research: Năm 2020 bất động sản trì trệ, ngành thép tiếp tục gặp khó

Kim Anh Thứ Hai | 13/01/2020 09:25

Ảnh: VnMedia.vn

Tăng trưởng sản lượng tiêu thụ của ngành thép tiếp tục ở mức thấp từ 5- 7% trong năm 2020 do sự trì trệ ở thị trường bất động sản...
Ảnh: VnMedia.vn

Theo đánh giá của Bộ phận phân tích thuộc Công ty chứng khoán SSI (SSI Research) tăng trưởng sản lượng tiêu thụ của ngành thép tiếp tục ở mức thấp từ 5- 7% trong năm 2020 do sự trì trệ ở thị trường bất động sản cùng với đầu tư công chậm. Tuy nhiên, việc gia tăng giải ngân nguồn vốn FDI có thể là yếu tố hỗ trợ cho nhu cầu thép.

Sau một năm lạc quan với mức tăng trưởng sản lượng thành phẩm đạt 10% trong năm 2018, sản lượng tiêu thụ thép duy trì hiệu suất ổn định trong 4 tháng đầu năm 2019 với tổng mức tăng trưởng sản lượng đạt 11% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng tiêu thụ trong nước tăng 15%, do các hoạt động xây dựng từ các dự án của các năm trước và việc giá thép phục hồi khuyến khích các đại lý tích lũy hàng tồn kho. Tuy nhiên, từ tháng 05 đến tháng 11, nhu cầu giảm đáng kể với tổng sản lượng tiêu thụ không thay đổi so với cùng kỳ năm trước, trong đó sản lượng tiêu thụ trong nước tăng vừa phải ở mức 3,5%.

Sản lượng tiêu thụ thép và tốc độ tăng trưởng. Nguồn: Hiệp hội thép Việt Nam, SSI Research.
Sản lượng tiêu thụ thép và tốc độ tăng trưởng. Nguồn: Hiệp hội thép Việt Nam, SSI Research.

Nhìn chung, sản lượng tiêu thụ thành phẩm trong 9 tháng đầu năm 2019 đạt 15,4 triệu tấn, trong đó thép xây dựng đạt 9,7 triệu tấn. Trong khi đó, sản lượng thép ống và tôn mạ không thay đổi đạt 5,6 triệu tấn.

SSI Research đánh giá năm 2019 là một năm khó khăn nữa đối với xuất khẩu thép. Mặc dù sản lượng xuất khẩu thép xây dựng đạt mức tăng trưởng nhẹ 1,6% trong 9 tháng đầu năm 2019, sản lượng xuất khẩu thép ống và tôn mạ giảm đáng kể 19% so với cùng kỳ năm trước do sự lan rộng của xu hướng bảo hộ giữa các quốc gia để áp đặt các biện pháp hạn chế nhập khẩu thép. Thị trường Mỹ và EU là thị trường xuất khẩu lớn thứ hai và thứ ba của Việt Nam đã giảm mạnh về sản lượng, chỉ chiếm 10% tổng sản lượng tiêu thụ trong 9 tháng đầu 2019 so với mức 19% trong 9T2018.

Thị phần của các công ty sản xuất thép xây dựng hàng đầu. Nguồn: Hiệp hội thép Việt Nam, SSI Research.
Thị phần của các công ty sản xuất thép xây dựng hàng đầu. Nguồn: Hiệp hội thép Việt Nam, SSI Research.

Bên cạnh đó, trong năm 2019, giá thép giảm do nhu cầu và xu hướng giá toàn cầu giảm, dẫn đến thua lỗ ở một số công ty sản xuất thép xây dựng. Cụ thể, sau khi phục hồi 6-7% trong 4 tháng đầu năm 2019, giá thép xây dựng đã điều chỉnh 10% trong 7 tháng tiếp theo do nhu cầu và giá nguyên liệu thô giảm. Giá thép giảm ảnh hưởng đến tỷ suất lợi nhuận của các công ty sản xuất thép hiện tại, nhiều công ty đã giảm sâu tỷ suất lợi nhuận hoặc thua lỗ và phải cắt giảm sản lượng sản xuất, dẫn đến mất thị phần.

Đánh giá thêm về ngành thép, SSI Research nhận định năm 2020, tổng công suất thép xây dựng ước tính tăng 15%, đến từ khu liên hợp thép Dung Quất của Hòa Phát và nhà máy VAS Nghi Sơn với công suất lần lượt là 2 triệu tấn và 500 nghìn tấn. Tuy nhiên, một phần của việc gia tăng công suất bù đắp cho việc đóng cửa một số dây chuyền sản xuất, ví dụ như từ Posco SS ở miền Nam với công suất 500 nghìn tấn/năm.

Theo quan điểm của SSI Research, trong bối cảnh áp lực cạnh tranh ngày càng gia tăng, xu hướng chiếm lĩnh thị phần trong mảng thép xây dựng có thể tăng tốc theo hướng có lợi cho các công ty lớn với lợi thế đáng kể về chi phí sản xuất, vận chuyển, và hệ thống phân phối như Hòa Phát. Tuy nhiên, do tỷ suất EBITDA của nhiều nhà sản xuất gần bằng 0, SSI Research cho rằng áp lực giảm giá thép không quá lớn, do các công ty nhỏ hơn và không hiệu quả có thể chọn cắt giảm sản lượng sản xuất khi doanh thu không thể bù đắp được chi phí.

So với thép xây dựng, thị trường tôn mạ có thể ổn định hơn trong năm 2020, do các công ty lớn nhất không có kế hoạch mở rộng công suất trong năm tới.

Trong bối cảnh xu hướng bảo hộ trên toàn thế giới, Việt Nam có thể gia hạn các mức thuế bảo hộ cho thép dài trong năm tới. Mức thuế hiện tại là 17,3% đối với phôi thép dài và 10,9% đối với thép xây dựng. Điều đáng chú ý là ngay cả trong trường hợp thuế không được gia hạn, áp lực từ Trung Quốc tăng không đáng kể, do giá thép hiện tại ở Trung Quốc không chênh lệch nhiều với giá thép ở Việt Nam.

►Bất động sản 'đứng hình', ngành thép lao đao

►Bức tranh ngành thép 6 tháng đầu năm 2019

Tin cùng chuyên mục

Tin nổi bật trong ngày