Tạp chí số 887

“Nội địa hóa” vốn FDI

Dung Vũ Thứ Hai | 20/04/2026 14:00

Khu vực FDI hiện chiếm khoảng 2/3 kim ngạch xuất khẩu hàng chế biến chế tạo. Ảnh: Minh họa A.I.

Khu vực FDI đóng góp 2/3 kim ngạch xuất khẩu nhưng lại gần như đứng ngoài thị trường vốn nội địa.
Khu vực FDI hiện chiếm khoảng 2/3 kim ngạch xuất khẩu hàng chế biến chế tạo. Ảnh: Minh họa A.I.

Sau hơn một thập kỷ thu hút FDI, Việt Nam đã được định vị khá rõ trong chuỗi cung ứng toàn cầu như một cứ điểm sản xuất - xuất khẩu của châu Á, đặc biệt ở các khâu lắp ráp, gia công, hoàn thiện để phục vụ các thị trường tiêu thụ lớn (Mỹ, EU, Đông Bắc Á). Quốc gia Đông Nam Á hiện mạnh ở vai trò tiếp nhận đơn hàng - lắp ráp - hoàn thiện - xuất khẩu sang các thị trường lớn (Mỹ, EU, Đông Bắc Á). Tuy nhiên, cấu trúc giá trị còn thiên về trung - hạ nguồn, trong khi các khâu giá trị cao (thiết kế, linh kiện lõi, marketing toàn cầu…) vẫn chủ yếu nằm ở các tập đoàn FDI và chuỗi cung ứng khu vực. 

“Nút thắt cốt lõi là độ nội địa hóa thấp. Năm 2025 khu vực doanh nghiệp trong nước chỉ đóng góp 24,2% kim ngạch xuất khẩu, trong khi FDI chiếm 75,8%, hàm ý Việt Nam xuất khẩu lớn nhưng phần giá trị giữ lại trong nước bị giới hạn bởi năng lực công nghiệp hỗ trợ, vật liệu - linh kiện, công nghệ và dịch vụ công nghiệp”, ông Lê Tự Quốc Hưng, Trưởng phòng Cao cấp Bộ phận Phân tích thị trường và Chiến lược đầu tư, Trung tâm Phân tích Chứng khoán Rồng Việt (VDSC), chia sẻ với NCĐT. 

 

Trong làn sóng dịch chuyển chuỗi cung ứng toàn cầu hiện nay, Việt Nam đang đứng trước một bước ngoặt về chiến lược tài chính. Thay vì chỉ cạnh tranh bằng ưu đãi thuế và nhân công giá rẻ, Việt Nam đang nỗ lực chuyển mình thành một trung tâm sản xuất có khả năng chống chịu cao và một thị trường vốn minh bạch, nơi dòng vốn FDI và nhà đầu tư nội địa cùng cộng hưởng phát triển.

Theo ông Hưng, trọng tâm của các tập đoàn đa quốc gia hiện nay không còn thuần túy là tối ưu hóa chi phí như trước. Thay vào đó, họ ưu tiên khả năng chống chịu thông qua việc đa dạng hóa nhà cung cấp, phân tán sản xuất, dự phòng tồn kho và đặc biệt là an ninh năng lượng. Việt Nam đã nhận diện được sự chuyển dịch này và sớm thiết lập “phần nền” quan trọng. Đó là việc đẩy mạnh đầu tư hạ tầng giao thông nhằm trực tiếp giảm thiểu rủi ro logistics và hạ chi phí vận hành dài hạn cho doanh nghiệp.

Bà Đỗ Minh Trang, Giám đốc Phòng Phân tích và Chiến lược thị trường, Công ty Chứng khoán ACBS, bổ sung rằng, Việt Nam đã làm tốt việc duy trì ổn định vĩ mô, giúp nhà đầu tư yên tâm về chi phí vốn và rủi ro chuyển đổi ngoại tệ. Cùng với đó là việc ban hành các chính sách liên quan tới ưu đãi tài chính, thuế cho FDI, tạo “tổng gói” cạnh tranh khu vực và ứng phó với mức thuế tối thiểu toàn cầu. 

Tuy nhiên, nếu dừng lại ở hạ tầng vật chất và ổn định tiền tệ, Việt Nam mới chỉ tạo ra một địa điểm sản xuất, chứ chưa phải một trung tâm tài chính gắn kết. Ông Matthew Smith, Giám đốc Nghiên cứu và Phân tích Khối Khách hàng tổ chức, Công ty Chứng khoán Yuanta Việt Nam, chỉ ra một thực tế tương phản: Việt Nam có một khuôn khổ thương mại quốc tế rất cởi mở, nhưng thị trường vốn vẫn còn tương đối khép kín đối với sự tham gia của nước ngoài. 

Khu vực FDI hiện chiếm khoảng 2/3 kim ngạch xuất khẩu hàng chế biến chế tạo và tăng trưởng nhanh hơn toàn bộ nền kinh tế trong nhiều năm, nhưng lại đang vận hành như một thực thể độc lập, rất ít doanh nghiệp trong số đó có thể tiếp cận các nguồn vốn nội địa. Chính sự lệch pha này đã gợi mở về một kịch bản thịnh vượng chung. “Việc cho phép các doanh nghiệp FDI tiếp cận sâu rộng hơn vào thị trường vốn trong nước có thể tạo ra một kịch bản đôi bên cùng có lợi cho cả các doanh nghiệp FDI và các nhà đầu tư Việt Nam”, ông Smith nói. 

 

Về phía khối FDI, việc cải thiện khuôn khổ để họ có thể huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu nội địa và thực hiện IPO sẽ là một bước phát triển tích cực, giúp họ đa dạng hóa nguồn tài chính tại chỗ. Đây chính là cơ hội để nhà đầu tư Việt Nam tham gia vào các doanh nghiệp năng động nhất của nền kinh tế. Khi dòng vốn FDI được “nội địa hóa” thông qua các kênh niêm yết, nó sẽ tạo ra sự gắn kết hữu cơ giữa lợi ích của các tập đoàn đa quốc gia với sự thịnh vượng của thị trường tài chính trong nước.

Gần đây, cơ quan quản lý đã chủ động hơn trong việc từng bước tự do hóa thị trường vốn, thể hiện qua những thông tin tích cực và đáng chú ý về nâng hạng thị trường chứng khoán Việt Nam lên thị trường mới nổi thứ cấp bởi FTSE, cũng như tham vọng xây dựng Trung tâm Tài chính Quốc tế tại TP.HCM và Đà Nẵng.

Ông Matthew Smith đánh giá tích cực về sự sẵn sàng của các nhà hoạch định chính sách trong việc lắng nghe và thấu hiểu các mối quan ngại của nhà đầu tư toàn cầu và vẫn duy trì quan điểm lạc quan về tiềm năng được nâng hạng của Việt Nam trong vài năm tới. “Việc cải thiện khuôn khổ pháp lý để các doanh nghiệp này có thể huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu trong nước và IPO sẽ là một bước phát triển tích cực. Chúng tôi tin rằng đây sẽ trở thành một chủ đề trọng tâm của thị trường Việt Nam trong những năm tới”, ông nói thêm.

Cũng ở góc độ thị trường vốn, ông Hưng của VDSC cho rằng Việt Nam cần phát triển thị trường vốn (đặc biệt là kênh trái phiếu và các cấu trúc tài trợ dài hạn minh bạch) để giảm sự lệ thuộc vào tín dụng ngân hàng, qua đó nâng “độ dày” của năng lực tài chính khi đón các dự án quy mô lớn, vòng đời dài và yêu cầu chuẩn mực cao. 

Có thể bạn quan tâm 

Tô phở “gánh” địa chính trị toàn cầu


Tin cùng chuyên mục

Tin nổi bật trong ngày