Cuộc cách mạng thầm lặng tại Nhật
GDP Nhật đã tăng trưởng âm 7,1% trong quý kết thúc vào tháng 6.2014, mức tồi tệ nhất kể từ quý kết thúc vào tháng 3.2009. Nguyên nhân chính là chi tiêu tiêu dùng giảm mạnh sau đợt tăng thuế tiêu dùng vào tháng 4. Trong khi đó, lạm phát đã giảm xuống mức thấp nhất trong 10 tháng qua với CPI lõi tháng 8 chỉ tăng 1,1% so với cùng kỳ năm ngoái.
“Số liệu gần đây cho thấy sự suy yếu trong bức tranh toàn cảnh và đà phục hồi kinh tế đã chậm hơn so với dự kiến”, Yoshiki Shinke, chuyên gia kinh tế trưởng tại Dai-ichi Life Research Institute, nhận xét. Ông dự báo nền kinh tế sẽ vẫn ì ạch trong năm tài chính hiện tại.
Thế nhưng, trong bức tranh kinh tế vĩ mô khá bi quan ấy lại có một điểm sáng. Đó là các doanh nghiệp Nhật tiếp tục báo cáo mức lợi nhuận kỷ lục. Lợi nhuận ròng tại các tập đoàn lớn của Nhật đã tăng 69% đạt 25.300 tỉ yen (231 tỉ USD) trong năm tài chính kết thúc vào tháng 3.2014, theo SMBC Nikko Securities. Đặc biệt là ở khu vực sản xuất khi lãi ròng của các nhà sản xuất lớn đã tăng 116% đạt 12.100 tỉ yen.
Báo cáo kết quả kinh doanh lạc quan của các doanh nghiệp là động lực chính đằng sau mức tăng mạnh của chỉ số Nikkei Stock Average, khi đóng cửa ở mức 16.374,14 điểm vào ngày 25.9, cao nhất kể từ năm 2007, trước khi giảm xuống còn 15.478,93 điểm vào ngày 9.10.2014.
Một điều đáng chú ý trong bức tranh lợi nhuận này là không thấy sự góp mặt của các công ty điện tử tiêu dùng đã mang lại hào quang cho Nhật vài chục năm về trước. Sự sa sút của ngành này đã vẽ lên câu chuyện về một nước Nhật đang suy thoái, nhưng nước này đang cho thấy một nền tảng vững chắc trong các công ty và các ngành trông có vẻ “tầm thường” nhưng lại đang là một động lực lớn cho cuộc lội ngược dòng của Nhật hiện nay như Toray Industries.
Ở bên ngoài nước Nhật, Toray không phải là cái tên ai cũng biết đến, nhưng nhà sản xuất vật liệu cơ bản này rất ăn nên làm ra. Murata Manufacturing, Nidec Corp và Omron cũng báo cáo mức lãi ròng cao trong năm tài chính gần đây nhất, nhờ cung cấp các phụ tùng, linh kiện đặc biệt dành cho điện thoại thông minh và các thiết bị công nghệ cao khác. Trong khi đó, hãng điện tử Sony lại dự báo mức lỗ tới 230 tỉ yen. Còn tại Nintendo, doanh số bán đã giảm 44% trong 3 năm tài chính vừa qua.
“Ai cũng chú tâm đến các công ty giờ chỉ còn là xác chết biết đi, nhưng vẫn có những công ty lớn mà hầu hết chưa ai nghe nói đến. Đó là một cuộc cách mạng thầm lặng”, Ulrike Schaede, Giáo sư về doanh nghiệp Nhật tại Đại học California, San Diego, nhận xét.
Cũng cần nhắc lại rằng sự tăng trưởng thần tốc của nền kinh tế Nhật sau chiến tranh thế giới thứ hai chủ yếu là nhờ vào những công ty xuất khẩu vật liệu, linh kiện và sản phẩm công nghiệp, chứ không phải là các công ty hàng tiêu dùng.
Cho đến thập niên 1960, các mặt hàng xuất khẩu lớn nhất của Nhật là thép, dệt, cá và tàu thủy, theo Hội đồng Ngoại thương Nhật. Trong đó Toray là một nhà xuất khẩu dệt lớn đã góp phần vào sự khởi sắc của Nhật sau chiến tranh. Vào năm 1962, các mặt hàng tiêu dùng lâu bền (như xe hơi, máy lạnh, tủ lạnh) chiếm chỉ 14% xuất khẩu của Nhật, theo Hiệp hội Thuế quan Nhật.
Thế nhưng, những gì thế giới cảm nhận về doanh nghiệp Nhật đã thay đổi trong suốt thời kỳ bong bóng thập niên 1980. Các thương hiệu điện tử tiêu dùng như Sony, Nintendo và Panasonic nằm trong nhóm những doanh nghiệp đứng đầu về tăng trưởng (cùng với các nhà sản xuất ôtô) và họ đã trở thành một biểu tượng cho hình ảnh của Nhật ở nước ngoài.
Đến năm 1986, các mặt hàng lâu bền đã chiếm tới 30% xuất khẩu Nhật. Ôtô, thiết bị văn phòng, máy ghi âm và các thiết bị chính xác như camera đã cùng với thép trở thành những mặt hàng xuất khẩu nhiều nhất của Nhật. Nhưng đến năm 2013, các mặt hàng lâu bền đã giảm, chiếm chỉ 16% xuất khẩu. Ôtô vẫn là mặt hàng thuộc nhóm xuất khẩu nhiều nhất nhưng lại đứng sau thép, các bộ phận điện tử, linh kiện ôtô và các hóa chất hữu cơ.
Xét ở lĩnh vực hàng tiêu dùng, Nhật đã đi từ mức thặng dư thương mại 25 tỉ USD năm 2007 chuyển sang bị thâm hụt tới 52 tỉ USD năm 2012. Trong khi đó, thặng dư của Nhật trong lĩnh vực linh kiện, phụ tùng sử dụng trong sản xuất đã tăng lên tới 137 tỉ USD từ mức 116 tỉ USD.
“Nhật rõ ràng đã mất đi lợi thế cạnh tranh trong lĩnh vực điện tử tiêu dùng. Vì thế, hoàn toàn hợp lý khi di chuyển lên cao hơn trong chuỗi giá trị và tập trung vào các vật liệu cao cấp và linh kiện, phụ tùng có giá trị cao”, Kathy Matsui, trưởng chiến lược gia về cổ phiếu Nhật tại Goldman Sachs, nhận xét.
Thậm chí một số tập đoàn lớn cũng từ lĩnh vực hàng tiêu dùng quay trở về với hoạt động cốt lõi. Hitachi, Toshiba và NEC Corp, không lâu sau chiến tranh, đã tăng trưởng bằng cách xuất khẩu các sản phẩm công nghiệp như đầu máy xe lửa, turbin khí và các thiết bị viễn thông. Thế nhưng, vào thập niên 1980, họ đã bành trướng sang lĩnh vực tiêu dùng như tivi, thiết bị gia dụng và sau đó là điện thoại thông minh. Và họ đã phải gánh chịu hậu quả vì điều đó, khi không cạnh tranh được với các đối thủ đến từ Hàn Quốc và Trung Quốc.
Hiện tại, cả 3 công ty trên đều đã từ bỏ hoặc thu hẹp lĩnh vực tiêu dùng và tập trung nhiều hơn vào các lĩnh vực như máy móc hạng nặng, sản phẩm điện tử công nghiệp và vệ tinh.
Trong danh sách các công ty thành công qua nhiều năm (tức các công ty có mức tăng trưởng hằng năm 5,5% trong doanh số bán và lợi nhuận trong suốt 10 năm, trong khi tạo ra được mức lợi nhuận cao hơn chi phí vốn) của hãng tư vấn Bain & Co. , khoảng 1/3 trong số 42 công ty Nhật được niêm yết là hoạt động trong những ngành “sau bức màn nhung” như linh kiện ôtô, hóa chất, xây dựng và kỹ thuật. Vào thập niên 1990, không có một công ty nào hoạt động trong những ngành này có mặt trong danh sách của Bain & Co.
Theo Shintaro Okuno, một đối tác của Bain & Co. tại Tokyo, sự chuyển hướng đang đi về phía các công ty “bậc cao”, đặc biệt là các nhà sản xuất linh kiện phụ tùng. “Nó vẫn là sản xuất nhưng đó là một dạng sản xuất hoàn toàn khác”, ông nói. Toray là một ví dụ điển hình.
Toray khởi nghiệp vào năm 1926 là một nhà sản xuất sợi tổng hợp, nhưng sau đó đã bành trướng sang các lĩnh vực sợi khác và hóa chất. Khi Nhật tăng xuất khẩu tiêu dùng, Toray cũng tìm cách để tiếp cận hơn với người tiêu dùng với các vật liệu có thương hiệu như Ultrasuede, một loại sợi tổng hợp mang cảm giác như da. Nhưng Toray vẫn tiếp tục phát triển các vật liệu công nghiệp.
Vào thập niên 1970 và 1980 khi một số nhà sản xuất sợi carbon từ bỏ ngành này vì thiếu khách hàng, Toray đã chú trọng vào việc phát triển công nghệ và tinh gọn, tối ưu hóa sản xuất. Điều đó đã cho Toray một lợi thế toàn cầu khi ngành sợi carbon trở nên nổi tiếng, theo Yoshihiro Azuma, một chuyên gia phân tích của Jefferies.
Năm 2006, Toray đã ký kết hợp đồng cung cấp vật liệu trong đó có sợi carbon cho Boeing kéo dài đến hết năm 2021. Dự kiến đơn đặt hàng từ Boeing sẽ tăng mạnh hơn, Toray gần đây đã công bố kế hoạch đầu tư 1 tỉ USD vào một nhà máy mới ở South Carolina.
Những thương vụ dài hạn như vậy đã giúp Toray sống tốt qua thời kỳ kinh tế ảm đạm của Nhật. Toray hiện bành trướng vào các thị trường mới. Năm nay, Toray đã mua lại Zoltek Companies (Mỹ), một nhà cung cấp sợi carbon cho ngành ôtô. Nó cũng làm ra các vật liệu được sử dụng để sản xuất bán dẫn, pin lithium-ion, cáp sợi quang và loại sợi có thể thấm hút tốt sử dụng trong tã giấy dùng 1 lần.
“Với những công ty như vậy, nền kinh tế Nhật đã có đôi chân để có thể trụ vững”, Jesper Koll, người đứng đầu bộ phận nghiên cứu cổ phiếu Nhật tại JP Morgan Chase & Co., nhận xét
(Theo WSJ và Reuters)
Theo dõi Nhịp Cầu Đầu Tư
