Kinh Doanh

Chữ K của dệt may

Minh Phong Thứ Bảy | 16/05/2026 07:30

Năm 2024-2025, Việt Nam đã tận dụng tốt sự bất ổn tại Bangladesh để vươn lên vị trí thứ 2 thế giới về xuất khẩu may mặc. Ảnh: Ảnh: shutterstock.com.

Hồi kết của lao động giá rẻ tạo ra khoảng cách phân hóa trong ngành dệt may.
Năm 2024-2025, Việt Nam đã tận dụng tốt sự bất ổn tại Bangladesh để vươn lên vị trí thứ 2 thế giới về xuất khẩu may mặc. Ảnh: Ảnh: shutterstock.com.

Trong các xưởng may tại Nam Định hay Thái Nguyên vào mùa xuân năm 2026, tiếng máy khâu vẫn dồn dập, nhưng bản chất của những âm thanh đó đã thay đổi. 

Chia lại thị phần 

Không còn là những chuỗi lệnh sản xuất hàng triệu chiếc áo phông giá rẻ, thay vào đó là những đơn hàng nhỏ lẻ, phức tạp với yêu cầu khắt khe về chỉ số carbon và tính minh bạch của chuỗi cung ứng. Đây là những tín hiệu rõ ràng hơn cho xu hướng “phân hóa cực điểm” của ngành dệt may. Theo dữ liệu từ Hiệp hội Dệt May Việt Nam (VITAS), kim ngạch xuất khẩu năm 2025 đạt khoảng 46 tỷ USD và mục tiêu cho năm 2026 là 50 tỷ USD. Nhìn qua, con số này có vẻ khả quan, nhưng đằng sau là một cuộc chiến giành giật thị phần khốc liệt.

Thị trường toàn cầu không còn tăng trưởng nóng như thập kỷ trước. Tổng cầu tiêu dùng tại các thị trường chủ lực như Mỹ và EU đang đi ngang do áp lực lạm phát và xu hướng tiêu dùng bền vững. Năm 2024-2025, Việt Nam đã tận dụng tốt sự bất ổn tại Bangladesh để vươn lên vị trí thứ 2 thế giới về xuất khẩu may mặc, nhưng đến năm 2026, “phép màu” từ sự dịch chuyển đơn hàng tạm thời đã bão hòa. Cạnh tranh từ các nước có chi phí lao động thấp hơn như Bangladesh hay Ấn Độ khiến chi phí nhân công của Việt Nam đang dần mất lợi thế. Đó là một phần lý do khi nhìn lại 5 năm qua, ngành dệt may Việt Nam tăng trưởng bình quân chỉ khoảng 5,58%/năm, thấp hơn đáng kể so với giai đoạn trước, khi mức tăng trưởng thường đạt 11-12%. 

Tại các đại hội cổ đông đầu năm 2026, một từ khóa xuất hiện dày đặc trong báo cáo của các thương hiệu dệt may lớn: chuyển dịch giá trị cao. Trước đây, các đơn hàng lớn vẫn chiếm tỷ trọng cao, nhưng hiện nay khách hàng có xu hướng chia nhỏ đơn hàng để giảm rủi ro tồn kho. Điều này khiến chi phí sản xuất tăng, hiệu suất giảm, nhưng nếu không chấp nhận thì doanh nghiệp sẽ không có đơn hàng.

Phân hóa hình chữ K

Tập đoàn Dệt May Việt Nam (Vinatex) công bố lãi tăng 31% trong quý I/2026. Bí quyết không nằm ở số lượng. Trong báo cáo cổ đông, lãnh đạo Vinatex nhấn mạnh vào việc “xanh hóa” từ khâu kéo sợi. Khi Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) của EU chính thức có hiệu lực từ ngày 1/1/2026, những đơn vị tự chủ được nguồn sợi tái chế và sử dụng năng lượng mặt trời áp mái như Vinatex đã nghiễm nhiên chiếm lợi thế, lấy đi đơn hàng từ các đối thủ vẫn phụ thuộc vào năng lượng hóa thạch. 

Ông Cao Hữu Hiếu, Tổng Giám đốc Vinatex, cho biết: “Kết quả kinh doanh phản ánh hoạt động của doanh nghiệp đang đi đúng định hướng khi tập trung vào chất lượng, nâng cao giá trị, trong bối cảnh thị trường toàn cầu gặp nhiều khó khăn”.

Câu chuyện tại May Sông Hồng hay May 10 lại là một kịch bản khác về sự linh hoạt. May 10 hiện đang triển khai các đơn hàng đồ vest may đo cho thị trường Nhật và Mỹ. Thay vì may 1 triệu chiếc áo giống hệt nhau, họ may 1 triệu chiếc áo với các thông số khác nhau.

“Dư địa nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm còn nhiều. Ngành dệt may sẽ không chỉ dựa vào gia công đại trà mà tập trung vào phân khúc có hàm lượng chất xám cao”, ông Vũ Đức Giang, Chủ tịch VITAS, Chủ tịch Hội đồng Quản trị May Việt Tiến, nhận định.

Năm 2026, ngành dệt may Việt Nam đặt mục tiêu kim ngạch xuất khẩu 50 tỷ USD, qua đó tiếp tục khẳng định vị thế trong nhóm 3 quốc gia xuất khẩu dệt may lớn nhất thế giới. Tuy nhiên, thực tế ngày càng khắc nghiệt khi nhu cầu dệt may toàn cầu khó có thể đạt mức tăng trưởng 3% như dự báo đầu năm. Trong khi đó, giá bán khó cải thiện, thậm chí có thể giảm bởi nhãn hàng yêu cầu nhà sản xuất chia sẻ chi phí phát sinh liên quan đến logistics và năng lượng. Cộng với áp lực về nguồn cung và chi phí vận tải, nguyên liệu tăng cao, doanh nghiệp dệt may có thể bị co hẹp đáng kể về biên lợi nhuận.

“Nhìn về tương lai, động lực tăng trưởng không còn đến từ nhu cầu toàn cầu gia tăng, mà chủ yếu đến từ việc giành thị phần từ các quốc gia khác như Trung Quốc, Bangladesh hay Ấn Độ. Nói cách khác, miếng bánh thị trường không tăng nhiều, mà đang được phân chia lại giữa các quốc gia và doanh nghiệp”, ông Trần Như Tùng, Chủ tịch Hội đồng Quản trị Công ty Dệt may - Đầu tư - Thương mại Thành Công (TCM), nhận định.

Như vậy, doanh nghiệp nào chuẩn bị tốt hơn sẽ có cơ hội mở rộng thị phần và ngược lại. Thị trường cho thấy sự phân hóa của ngành đang diễn ra theo hình chữ K. Nhóm đi lên là các doanh nghiệp như TNG, TCM, May Sông Hồng - những đơn vị đã đổ tiền vào hệ thống quản trị số và ERP từ 2-3 năm trước. Họ có thể truy xuất nguồn gốc sản phẩm chỉ bằng một mã QR, đáp ứng luật CSDDD (Chỉ thị về trách nhiệm giải trình bền vững doanh nghiệp) của EU. Những doanh nghiệp này có thể đón sự chuyển dịch từ các đơn hàng gia công truyền thống (CMT, FOB) sang ODM, tức tự chủ thiết kế và phát triển sản phẩm. Đây được xem là bước đi quan trọng nhằm nâng cao giá trị gia tăng và cải thiện biên lợi nhuận trong dài hạn.

Nhóm đi xuống là các doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ, vốn mỏng, không thể chuyển đổi sang sản xuất xanh. Họ đang bị gạt ra khỏi chuỗi cung ứng của các thương hiệu lớn như Uniqlo hay Zara và buộc phải tìm đến các thị trường ngách ít lợi nhuận hơn.

Ngành dệt may Việt Nam đang thoát khỏi cái bóng của ngành công nghiệp thâm dụng lao động thuần túy. Nó đang trở thành một ngành công nghiệp công nghệ cao nhẹ. Việc sử dụng 60% lao động thủ công cho các công đoạn tinh xảo và 40% tự động hóa cho các công đoạn cơ bản như quy trình may vest của May 10 đang là “tỷ lệ vàng” giúp Việt Nam khác biệt với sự tự động hóa hoàn toàn của Trung Quốc hay sự thâm dụng lao động giá rẻ của các nước mới nổi tại châu Phi.

Việt Nam đang đứng trước cơ hội mở rộng thị phần không phải vì thế giới cần nhiều quần áo hơn, mà vì thế giới cần những bộ quần áo “sạch” hơn và được giao nhanh hơn.


Tin cùng chuyên mục

Tin nổi bật trong ngày