Kinh Doanh

Điện thoại cố định hết thời?

Thứ Hai | 20/09/2010 04:58

Trái với tốc độ tăng trưởng vượt bậc của điện thoại di động, điện thoại cố định đang tiếp tục đi thụt lùi. Những dự báo về một ngày điện thoại cố định sẽ chỉ còn là quá vãng dường như rất chắc chắn. Nhưng không, điện thoại cố định chưa thể chết: nó đang ẩn mình chờ ngày trở lại với hình hài mới.

Năm 2005, anh Phan Công Bình, phóng viên một tờ báo tại TP.HCM, gửi tiền về quê cho gia đình bắt một cái điện thoại cố định để tiện liên lạc. Thời điểm đó, bắt điện thoại cố định rất phức tạp vì phải câu đường dây khá xa, chi phí cũng mất 2 triệu đồng. Mấy năm sau đó nhiều gia đình khác cũng đã bắt được điện thoại cố định, nhưng chưa nhiều và điện thoại cố định vẫn là phương tiện liên lạc phổ biến.

Tháng rồi tình cờ anh Bình gọi về thăm gia đình qua số điện thoại cố định, nhưng không liên lạc được. Gọi qua số di động, được người thân cho biết, đường dây bị đứt gần cả tháng nhưng cũng không buồn gọi công ty dịch vụ nối lại vì “có gì gọi di động cũng được”. Bởi lẽ, nếu cộng luôn cả chiếc điện thoại cố định không dây vốn được nhà mạng cho xài miễn phí, giờ không còn xài vì không còn khuyến mãi thì nhà anh Bình có tới 5 máy điện thoại, dù chỉ có 4 người.

Di động soán ngôi

Đó là câu chuyện ở nông thôn và chắc không chỉ diễn ra ở gia đình của anh Bình. Ở thành thị, đặc biệt là trong các gia đình trẻ, khi mỗi người ai cũng có điện thoại di động, thậm chí có người có đến 3 chiếc, thì điện thoại cố định càng ít có cơ hội được dòm ngó đến.

Hình ảnh rõ ràng nhất cho thấy sự thất sủng của điện thoại cố định ở các thành phố lớn là các buồng điện thoại công cộng dùng thẻ. Chỉ 5 năm trước, khi mới ra đời, các buồng điện thoại này được rất nhiều người đón nhận nhờ tính tiện lợi. Thế nhưng, hiện tại, chúng đã trở thành nơi trú ngụ của… rác và nghe đâu cơ quan chủ quản chuẩn bị bỏ ra một khoản tiền lớn để dẹp bỏ chúng, trả lại mỹ quan cho thành phố.

Câu chuyện của Sacom, công ty sản xuất cáp viễn thông hàng đầu Việt Nam hiện nay, cũng cho thấy sự thay đổi chóng mặt trong lĩnh vực này. Năm 2006, Tập đoàn Bưu chính Viễn thông (VNPT) đưa ra chiến lược phát triển các nhà máy cáp đồng để đáp ứng mục tiêu của Nhà nước là nâng số điện thoại cố định lên 20 máy trên 100 dân. Song, chỉ 1 năm sau, sự bùng nổ của điện thoại di động đã khiến kế hoạch này bị phá sản hoàn toàn. VNPT phải ngưng ngay chiến lược phát triển cáp đồng. Nhiều máy móc sản xuất cáp đồng trị giá hàng triệu USD vừa mới nhập về đã phải đắp chiếu. Cũng trong năm 2005, thuế nhập khẩu điện thoại di động chỉ còn khoảng 5% (so với mức 10% trước đó) và Viettel bắt đầu tham gia thị trường viễn thông di động, phá vỡ thế độc quyền của VNPT.

Cách đây chừng chục năm, khi điện thoại di động còn là sản phẩm xa xỉ, chỉ những người thuộc tầng lớp khá giả mới có thể sở hữu bởi giá thiết bị lẫn giá cước đều đắt đỏ, điện thoại cố định được xem là phương tiện liên lạc chính. Theo ông Vũ Quốc Việt, Giám đốc Trung tâm Thông tin của VNPT, tốc độ phát triển của điện thoại cố định ở Việt Nam vào năm 2005 lên đến 60%, thuộc hàng nhanh nhất thế giới. Tổng số thuê bao điện thoại vào thời điểm đó là khoảng 15 triệu, với tỉ lệ chia đều 50/50 cho điện thoại cố định và di động.

Thế nhưng, chỉ trong chưa đầy 5 năm, với sự gia nhập của một loạt nhà cung cấp dịch vụ, giá cước và giá thiết bị liên tục giảm, điện thoại di động đã hoàn toàn đảo ngược tình thế.

Ông Việt cho hay: “Thuê bao cố định tăng trưởng rất chậm, mỗi năm tăng 8-10% là cùng. Thậm chí có năm tỉ lệ cắt thuê bao còn nhiều hơn tỉ lệ lắp đặt mới. VNPT có thời gian đạt 12 triệu thuê bao, có lúc xuống 8 triệu, giờ lên lại gần 12 triệu”. Trong khi đó, trong lĩnh vực thuê bao di động, VNPT (gồm VinaPhone và MobiFone) hiện sở hữu 77,5 triệu thuê bao, tăng tới 54% so với năm 2009.

Tính đến hết tháng 8.2010, trong tổng số 158,6 triệu thuê bao điện thoại của cả nước thì điện thoại di động chiếm đến 142,2 triệu (89,5%), điện thoại cố định chỉ còn 16,4 triệu (10,5%). Như vậy, nếu tính cả di động và cố định, trung bình mỗi người dân Việt Nam sở hữu gần 2 số điện thoại.

 

Nhà mạng vẫn theo cố định

Sự yếu thế của điện thoại cố định tại thị trường Việt Nam cũng thể hiện ở sự im ắng của các nhà mạng. Tính đến thời điểm này đã có 8 doanh nghiệp đăng ký kinh doanh dịch vụ điện thoại cố định, trong đó cả điện thoại và internet. Doanh nghiệp được cấp phép gần đây nhất là Công ty Viễn thông Toàn Cầu (GTel). Trước đó, VNPT, Viettel, EVN Telecom, CMC Telecom, FPT Telecom, SPT và VTC Telecom đã được cấp phép cung cấp dịch vụ điện thoại hữu tuyến. Tuy nhiên, nhìn vào những động thái của họ, rất dễ nhận ra rằng sự quan tâm của doanh nghiệp chủ yếu dành cho dịch vụ điện thoại di động.

Chẳng hạn, GTel hiện tại chỉ phát triển mạng di động là Beeline, CMC Telecom thì tập trung phát triển dịch vụ hạ tầng mạng internet. FPT Telecom cũng chỉ phát triển điện thoại cố định như một giá trị cộng thêm cho các khách hàng sử dụng internet nếu có nhu cầu, dù trước đó kế hoạch của họ rất hoành tráng.

Cuối năm 2006, FPT được cấp phép làm điện thoại cố định. Với hạ tầng sẵn có là đường dây cung cấp dịch vụ internet ADSL, ông Trương Đình Anh, Tổng Giám đốc FPT Telecom, cho biết, Công ty sẽ chính thức cung cấp dịch vụ sau 3 tháng, tức đầu năm 2007 và dự kiến đến tháng 6.2007 sẽ phát triển được 100.000 thuê bao, đến hết năm sẽ là 250.000. Tuy nhiên, đến nay, sau hơn 3 năm nhận giấy phép, trong bảng thị phần điện thoại cố định tại Việt Nam, FPT vẫn chưa có được một % nào.

Thực tế này cũng dễ hiểu, nếu xem xét nhu cầu của người tiêu dùng, cũng như những vấn đề mà doanh nghiệp kinh doanh điện thoại cố định đang gặp phải.

Đứng ở góc độ người tiêu dùng, giá cước di động nay đã quá rẻ. Cước điện thoại di động hiện nay không cao hơn bao nhiêu so với điện thoại cố định liên tỉnh (khoảng 1.700 đồng/phút, so với mức 1.400 đồng/phút cước gọi liên tỉnh), nhưng lại có rất nhiều ứng dụng kèm theo, trong khi điện thoại cố định chỉ có chức năng thoại.

Đứng ở góc độ kinh doanh của doanh nghiệp, hầu hết các doanh nghiệp cho rằng kinh phí đầu tư ban đầu cho thuê bao cố định thì nhiều, mà thu lãi chẳng là bao. Theo ông Hoàng Mạnh Cường, Tổng Giám đốc CMC Telecom, mức đầu tư cho một thuê bao điện thoại cố định cao gấp 10 lần so với đầu tư vào thuê bao di động.

Trong khi đó, ông Việt, Tập đoàn VNPT, cho biết, doanh thu của thuê bao điện thoại cố định tại Việt Nam rất thấp và giá cước thấp hơn giá thành. Hiện nay doanh thu của một thuê bao điện thoại cố định chỉ khoảng 75.000 - 80.000 đồng/tháng, trong đó phí thuê bao hằng tháng đã chiếm gần 50% (30.000 đồng)

Đến đây, câu hỏi cần được đặt ra là: Tại sao thị trường không phát triển, lợi nhuận thấp nhưng các nhà mạng vẫn tiếp tục xin được cấp phép làm điện thoại cố định?

Theo ông Cường, Công ty CMC Telecom (được cấp phép hoạt động trong lĩnh vực này vào năm 2008), họ xin cấp phép để xí chỗ. “Kho số là một trong những tài nguyên của ngành viễn thông. Kho số chỉ có hạn, nếu không xin trước thì sau này muốn làm cũng không còn chỗ”, ông nói.

 

Ngắc ngoải, nhưng chưa thể chết

Điện thoại di động, với sự ra đời của công nghệ 3G và sắp tới là 4G, đang ngày càng thể hiện ưu thế vượt trội so với điện thoại cố định. Do đó, điện thoại cố định xem như đang đối mặt với một cái chết đã được báo trước.

Theo một số nghiên cứu trên thế giới, có lẽ điện thoại cố định sẽ hết thời. Ví dụ như ở Mỹ. Theo nghiên cứu của Trung tâm Kiểm soát và Phòng ngừa Bệnh dịch (CDC), hiện có khoảng 23% số người trưởng thành trên toàn nước Mỹ chỉ có điện thoại di động mà không có điện thoại cố định tại nhà. Xu hướng từ bỏ điện thoại cố định vẫn tăng nhanh ở tất cả các nhóm dân cư, đặc biệt là nhóm người trong độ tuổi 20 (hơn 50%).

Đó là câu chuyện ở Mỹ, một quốc gia phát triển. Tại Việt Nam, theo ông Cường, Công ty CMC Telecom, điện thoại cố định theo nghĩa máy đâu dây đó sẽ khó sống, nhưng điện thoại cố định sử dụng công nghệ vô tuyến sẽ trở thành xu hướng.

Để khắc phục nhược điểm đầu tư tốn kém, cước phí vẫn rẻ và đáp ứng tính di động, ngày càng nhiều doanh nghiệp viễn thông tung ra dòng điện thoại cố định không dây như E-Com của EVN, GPhone của VinaPhone hay Home Phone của Viettel. Theo thống kê của Bộ Thông tin và Truyền thông, hiện loại điện thoại này đã có được 6 triệu thuê bao, chủ yếu là ở các vùng sâu vùng xa.

Ông Việt, Tập đoàn VNPT cho biết, chương trình này vẫn đang được VNPT thực hiện và số lượng thuê bao điện thoại loại này vẫn đang tăng. Tuy nhiên, sự tăng trưởng này chủ yếu mang tính xã hội, dựa trên kinh phí của Nhà nước. Hằng năm, Bộ Thông tin và Truyền thông chi ra khoảng 1.000 tỉ đồng để phổ cập dịch vụ điện thoại cố định ở các vùng sâu vùng xa.

Ngay cả doanh nghiệp chuyên kinh doanh dịch vụ điện thoại cố định như EVN Telecom (chiếm 70% doanh thu) cũng cho biết, họ chỉ đặt kế hoạch phát triển điện thoại cố định ở các khu vực vùng sâu, vùng xa.

Ở các đô thị lớn như TP.HCM, theo thông tin từ các nhà mạng, số lượng thuê bao điện thoại cố định mới hầu như không tăng, nhưng ở các doanh nghiệp, gia đình đã sử dụng thì chiếc điện thoại cố định không dễ dàng biến mất. Và cho dù không tăng, nhưng với sự ổn định của nó, điện thoại cố định vẫn mang lại doanh thu, mà nói như Thứ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông Lê Nam Thắng, “điện thoại di động có thể có thuê bao ảo, chứ điện thoại cố định thì 16 triệu là 16 triệu thật, là người sử dụng thật”. Và điện thoại cố định vẫn còn lý do để tồn tại: trở thành một thành tố trong nền tảng công nghệ viễn thông mới.

Tích hợp giữa mạng điện thoại với mạng truyền số liệu hiện nay trên một nền tảng chung là mạng thế hệ mới, sử dụng giao thức IP (Internet Protocol) sẽ là xu hướng phát triển của mạng viễn thông.

Hiện nay Việt Nam chưa cho phép thực hiện dịch vụ gọi điện thoại từ máy tính đến máy tính thông qua đường truyền internet, nhưng trong tương lai, hình thức này chắc chắn sẽ ra đời. Khi đó cả Việt Nam là một kho số chứ không phải phân vùng. Điện thoại cố định sẽ được nâng cấp và mang một số IP, ở bất kỳ đâu cũng có thể gọi được, không phải phụ thuộc vào đường dây. Người dùng cũng sẽ không phải trả phí thoại mà chỉ trả phí đầu số. Đây chính là lý do các doanh nghiệp viễn thông đăng ký để xí chỗ, vì dù dùng công nghệ nào thì số điện thoại vẫn không đổi.

 

Sức mạnh đường truyền cũng là vũ khí khiến điện thoại cố định chưa thể sớm bị thay thế. Kết nối băng rộng di động như 3G hay 4G có thể làm thay đổi vị thế của điện thoại cố định không dây khi biến nó thành thiết bị phát triển được các dịch vụ băng rộng, nhưng vẫn không thể thay thế hoàn toàn kết nối băng rộng cố định như ADSL hay FTTx (đường truyền bằng cáp quang). Với kết nối có dây như FTTx, tốc độ kết nối lên đến hàng trăm Gbps, trong khi kết nối không dây chỉ có thể đạt vài Mbps.

Ngoài ra, sự ổn định, không bị ảnh hưởng bởi ngoại cảnh, chất lượng và tính bảo mật cao luôn là ưu thế tuyệt đối của viễn thông cố định. Vì thế, theo chính sách của Bộ Thông tin và Truyền thông, hạ tầng băng rộng quốc gia vẫn dựa trên công nghệ hữu tuyến. Kinh nghiệm từ nhiều quốc gia khác cũng cho thấy điều này. Ví dụ như Hàn Quốc. Mặc dù hệ thống băng rộng vô tuyến rất phát triển, nhưng băng rộng cố định vẫn là hệ thống viễn thông quốc gia của họ.

Ở Việt Nam, hiện nay, các nhà mạng đều đang chuyển sang sử dụng cáp quang thay cho cáp đồng. Và khi toàn bộ mạng lưới được thay bằng cáp quang, đáp ứng được các dịch vụ băng rộng cao cấp nhất, điện thoại cố định sẽ trở về đúng vị trí của nó, là thứ không thể thay thế trong các hộ gia đình. Điện thoại cố định lúc đó không đơn thuần chỉ là thoại. Thoại từ chức năng chính sẽ lùi về đóng vai trò giá trị gia tăng và lợi nhuận cho các doanh nghiệp viễn thông là từ dịch vụ truyền dữ liệu.

Tuy nhiên, phải mất thêm một thời gian nữa cáp quang mới trở nên phổ biến và giá rẻ hơn. Và trong thời gian đó, điện thoại cố định sẽ tiếp tục sống... vật vờ.


Tin cùng chuyên mục

Tin nổi bật trong ngày