Bất động sản

CBRE công bố tiêu điểm thị trường bất động sản TP.HCM quý II/2026

Thứ Tư | 08/07/2026 09:28

Bà Dương Thuỳ Dung, Giám đốc điều hành BP. Nghiên cứu và tư vấn, CBRE Việt Nam

Khác với các chu kỳ tăng trưởng trước, phần lớn người mua hiện nay ưu tiên an toàn tài chính, hạn chế sử dụng đòn bẩy quá mức.
Bà Dương Thuỳ Dung, Giám đốc điều hành BP. Nghiên cứu và tư vấn, CBRE Việt Nam

Thị trường Nhà ở TP.HCM

Thị trường bất động sản TP.HCM tiếp tục duy trì đà phục hồi nguồn cung trong Quý II/2026 với 6.573 căn hộ và 1.934 căn nhà liền thổ được mở bán mới, tăng 20% so với cùng kỳ năm trước. Nguồn cung mới tiếp tục tập trung tại các khu vực đô thị vệ tinh, phản ánh xu hướng dịch chuyển phát triển ra ngoài khu vực trung tâm trong bối cảnh quỹ đất ngày càng hạn chế.

Đối với phân khúc căn hộ, Bình Dương cũ tiếp tục giữ vai trò là nguồn cung chủ lực khi đóng góp gần 80% lượng sản phẩm mới ra thị trường. Trong khi đó, nguồn cung nhà liền thổ mới hoàn toàn đến từ TP.HCM cũ, chủ yếu từ một dự án đại đô thị quy mô lớn ở khu vực ngoại vi thành phố. Phần nguồn cung căn hộ còn lại đến từ các dự án tại TP.HCM cũ, vốn vẫn duy trì tốc độ phát triển chậm do hạn chế về quỹ đất và pháp lý.

Tính đến cuối Quý II/2026, tổng nguồn cung căn hộ lũy kế tại TP.HCM cũ đã đạt gần 355.000 căn. Tuy nhiên, lượng hàng tồn kho chỉ chiếm khoảng 2,3% tổng nguồn cung, cho thấy tình trạng khan hiếm sản phẩm sơ cấp tại các khu vực trung tâm và cận trung tâm.

Sự bổ sung nguồn cung quy mô lớn từ Bình Dương cũ đã giúp cơ cấu sản phẩm trên toàn thị trường trở nên đa dạng và dễ tiếp cận hơn, với hơn một nửa nguồn cung mới có mức giá dưới 60 triệu đồng/m2. Tuy nhiên, lợi thế này đang dần thu hẹp khi mặt bằng giá tại khu vực Bình Dương tiếp tục tăng. Đáng chú ý, khoảng 95% nguồn cung căn hộ mở bán mới tại Bình Dương trong Quý II/2026 thuộc phân khúc cao cấp, cho thấy quá trình nâng hạng sản phẩm đang diễn ra mạnh mẽ và làm giảm dần tỷ trọng nhà ở có giá vừa túi tiền trên thị trường.

Trong Quý II/2026, cao tốc Biên Hòa – Vũng Tàu đã chính thức thông xe toàn tuyến, giúp giảm áp lực cho Quốc lộ 51, tăng cường kết nối giữa TP.HCM với Đồng Nai, khu vực cảng Cái Mép – Thị Vải và cụm du lịch Vũng Tàu. Đây được xem là một trong những cột mốc hạ tầng quan trọng nhất của khu vực Đông Nam Bộ trong năm nay. Song song đó, dự án mở rộng Quốc lộ 13 đoạn từ cầu Bình Triệu đến cầu Vĩnh Bình đang được đẩy nhanh công tác giải phóng mặt bằng và chuẩn bị triển khai xây dựng. Sau khi hoàn thành, tuyến đường sẽ được mở rộng lên đến 10 -14 làn xe, đóng vai trò cửa ngõ chiến lược kết nối TP.HCM với Bình Dương và các tỉnh phía Bắc của vùng Đông Nam Bộ.

Trong thời gian tới, các dự án mang tính chiến lược quốc gia như đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam, tuyến đường sắt Thủ Thiêm – Long Thành cùng hệ thống vành đai và các tuyến cao tốc liên vùng tiếp tục được thúc đẩy triển khai. Sự phát triển đồng bộ của mạng lưới hạ tầng giao thông đang từng bước mở rộng không gian đô thị, gia tăng khả năng kết nối giữa trung tâm TP.HCM với các đô thị vệ tinh, đồng thời tạo động lực tăng trưởng mới cho thị trường bất động sản tại những khu vực hưởng lợi trực tiếp từ các công trình hạ tầng trọng điểm.

Nguồn: BP. Nghiên cứu CBRE Việt Nam, Q2/2026.
Nguồn: BP. Nghiên cứu CBRE Việt Nam, Q2/2026.

Căn hộ                            

Giá bán sơ cấp trung bình trên thị trường nhà ở TP.HCM (sau sáp nhập) trong Quý II/2026 đã đạt khoảng 76 triệu đồng/m2 thông thủy (chưa bao gồm VAT và phí bảo trì), tăng 8% so với quý trước và tăng 16% so với cùng kỳ năm trước. Đà tăng này tiếp tục được thúc đẩy bởi nguồn cung mới hạn chế tại khu vực TP.HCM cũ, nơi các dự án mở bán mới chủ yếu thuộc phân khúc trung và cao cấp. Tỷ lệ hấp thụ toàn thị trường vào QII/2026 trung bình đạt 90%, trong đó tỉ lệ hấp thụ nguồn cung mới đạt 73%.

Trong bối cảnh lãi suất duy trì ở mức cao và thanh khoản thị trường thứ cấp chậm lại, giá căn hộ thứ cấp tại TP.HCM đạt 62 triệu đồng/m2 thông thủy vào Q.II/2026, tăng nhẹ 2% so với quý trước và 26% so với cùng kỳ năm trước. So với Q.I/2026, mức tăng giá của thị trường thứ cấp đã chậm lại đáng kể, nhiều khu vực chỉ đi ngang hoặc tăng nhẹ. Mức tăng giá đáng kể nhất được ghi nhận tại Dĩ An, trong khi tại TP.HCM cũ, đà tăng tập trung ở khu vực Quận 2, Quận 9 và khu Nam nhờ kỳ vọng vào sự cải thiện của hạ tầng giao thông.

Triển vọng nguồn cung trong nửa cuối năm được đánh giá khả quan hơn khi nhiều dự án đang hoàn tất các thủ tục pháp lý và chuẩn bị mở bán. Tại khu vực TP.HCM cũ, nguồn cung mới căn hộ cả năm 2026 dự kiến tăng gấp ba so với năm trước. Đáng chú ý, nguồn cung mới sẽ tập trung chủ yếu tại khu Nam với khoảng 50% thị phần, trong khi khu Đông đóng góp khoảng 30%. Đây đều là những khu vực đang được hưởng lợi trực tiếp từ làn sóng đầu tư hạ tầng giao thông, sự hình thành các đô thị quy mô lớn và quá trình mở rộng không gian phát triển của thành phố.

Trên phạm vi toàn TP.HCM sau sáp nhập, tổng nguồn cung căn hộ dự kiến đạt khoảng 45.000 căn trong năm 2026. Bình Dương cũ được kỳ vọng đóng góp 50% tổng nguồn cung toàn thị trường, tiếp tục giữ vai trò là khu vực bổ sung nguồn cung chủ lực nhờ quỹ đất lớn và mức giá cạnh tranh hơn so với TP.HCM cũ.

Giá bán bình quân tại thị trường sơ cấp: triệu VNĐ trên m2 diện tích thông thủy đối với chung cư và triệu VNĐ trên m2 diện tích đất đối với BĐS gắn liền với đất (chưa bao gồm VAT, phí bảo trì và các chiết khấu).  Nguồn: BP. Nghiên cứu CBRE Việt Nam, Q2/2026.
Giá bán bình quân tại thị trường sơ cấp: triệu VNĐ trên m2 diện tích thông thủy đối với chung cư và triệu VNĐ trên m2 diện tích đất đối với BĐS gắn liền với đất (chưa bao gồm VAT, phí bảo trì và các chiết khấu). Nguồn: BP. Nghiên cứu CBRE Việt Nam, Qúy II/2026.

BĐS gắn liền với đất       

Nguồn cung bất động sản gắn liền với đất tại TP.HCM (trước sáp nhập) trong những năm gần đây tiếp tục phụ thuộc đáng kể vào các dự án đô thị quy mô lớn tại khu vực vùng ven, nơi vẫn còn quỹ đất phát triển rộng, quy hoạch bài bản và được hưởng lợi từ làn sóng đầu tư hạ tầng giao thông.

Sau Quý I/2026 tương đối yên ắng về nguồn cung mới, thị trường đã sôi động trở lại trong Quý II/2026 với 1.934 sản phẩm nhà liền thổ được giới thiệu ra thị trường, toàn bộ đến từ một dự án đại đô thị quy mô lớn tại Hóc Môn. Nguồn cung mới có giá bán thấp hơn đáng kể so với mặt bằng chung của các dự án hiện hữu (127 triệu đồng/m2 đất) đã góp phần điều chỉnh mặt bằng giá sơ cấp trên thị trường. Theo đó, giá bán nhà liền thổ trung bình tại TP.HCM cũ đạt khoảng 216 triệu đồng/m2 đất, giảm 3% so với quý trước và giảm 29% so với cùng kỳ năm 2025.

Tính đến cuối Quý II/2026, tỷ lệ hấp thụ đạt khoảng 40% nhờ lượng giao dịch đến từ cả nguồn cung mới và các sản phẩm tồn kho của những dự án mở bán trước. Trong bối cảnh lãi suất cao và nguồn cung dồi dào, các chủ đầu tư đẩy mạnh các hoạt động bán hàng, marketing dự án và đa đạng hóa và kéo giãn chính sách thanh toán nhằm tăng tính cạnh tranh cho dự án.

Trong giai đoạn tới, nguồn cung dự kiến sẽ tiếp tục được nâng cao khi hàng loạt dự án đô thị quy mô lớn chuẩn bị được triển khai tại khu Nam và khu Đông TP.HCM. Đây là hai khu vực đang được hưởng lợi mạnh từ quá trình hoàn thiện hạ tầng giao thông và mở rộng không gian đô thị, đồng thời sở hữu quỹ đất phát triển lớn hơn đáng kể so với khu vực trung tâm. Năm 2026, nguồn cung nhà liền thổ mới dự kiến đạt khoảng 6.000 căn và tiếp tục duy trì đà tăng trưởng trong các năm tiếp theo, với kỳ vọng vượt mốc 15.000 sản phẩm vào năm 2028. Điều này sẽ giúp thị trường dần cải thiện tình trạng thiếu hụt nguồn cung kéo dài, đồng thời mở ra nhiều cơ hội hơn cho cả nhu cầu ở thực lẫn đầu tư dài hạn.

Bà Dương Thuỳ Dung, – Giám đốc điều hành BP. Nghiên cứu và tư vấn, CBRE Việt Nam – cho biết: “Mặc dù thị trường đang ghi nhận những tín hiệu tích cực về nguồn cung, tâm lý người mua vẫn duy trì sự thận trọng nhất định trước các yếu tố kinh tế vĩ mô như áp lực lạm phát, mặt bằng lãi suất ở mức cao và những biến động của kinh tế toàn cầu. Khác với các chu kỳ tăng trưởng trước, phần lớn người mua hiện nay ưu tiên an toàn tài chính, hạn chế sử dụng đòn bẩy quá mức và tập trung vào các sản phẩm có giá trị sử dụng thực, pháp lý rõ ràng và tiềm năng tăng trưởng bền vững. Trong bối cảnh đó, thị trường tiếp tục xu hướng sàng lọc mạnh hơn, khi các dự án có vị trí tốt, chất lượng phát triển cao và được hỗ trợ bởi hạ tầng đồng bộ sẽ là những sản phẩm thu hút dòng tiền hiệu quả nhất.”

CBRE áp dụng tiêu chí phân hạng căn hộ như sau:

Đối với thị trường TP.HCM (trước sáp nhập)

Siêu sang: dự án với giá sơ cấp trung bình trên 300 triệu đồng/m2
Hạng sang: dự án với giá sơ cấp trung bình từ 120 đến 300 triệu đồng/m2
Cao cấp: dự án với giá sơ cấp trung bình từ 60 đến 120 triệu đồng/m2
Trung cấp: dự án với giá sơ cấp trung bình từ 35 đến 60 triệu đồng/m2
Bình dân: dự án với giá sơ cấp trung bình dưới 35 triệu đồng/m2

Đối với thị trường Bình Dương (trước sáp nhập)

Cao cấp: dự án với giá sơ cấp trung bình từ 48 triệu đồng/m2
Trung cấp: dự án với giá sơ cấp trung bình từ 24 đến dưới 48 triệu đồng/m2
Bình dân: dự án với giá sơ cấp trung bình dưới 24 triệu đồng/m2

(Giá bán trung bình trên thị trường sơ cấp chưa bao gồm thuế GTGT và được tính trên diện tích thông thủy, thể hiện giá bán của tất cả các dự án sơ cấp đang bán trên thị trường trong quý khảo sát)

Thị trường Văn phòng tại TP.HCM

Trong 6 tháng đầu năm 2026, thị trường văn phòng TP.HCM không ghi nhận dự án mới đi vào hoạt động, duy trì ở mức 1,7 triệu m2 NLA. Nguồn cung ổn định giúp mặt bằng giá thuê duy trì xu hướng tích cực, với mức tăng nhẹ theo quý là 0,1% đối với văn phòng Hạng A và 0,6% đối với Hạng B. So với cùng kỳ năm trước, giá thuê tăng 1,6% đạt 47,2 USD/m2/tháng cho hạng A và hạng B tăng 1,1% lên mức 27,1 USD/m2/tháng.

Dù vậy, đà hấp thụ của thị trường trong quý 2 có dấu hiệu chậm lại so với quý trước. Tỷ lệ trống tăng nhẹ theo quý, trong đó Hạng A tăng 0,1 điểm phần trăm lên 16,7% và Hạng B tăng 0,6 điểm phần trăm lên 12,5%. Tuy nhiên, so với cùng kỳ năm trước, bức tranh thị trường vẫn cho thấy tín hiệu cải thiện rõ nét. Sau khi đón nhận lượng nguồn cung mới tương đối lớn trong năm trước, tỷ lệ trống của phân khúc Hạng A đã giảm 6,2 điểm phần trăm so với cùng kỳ, cho thấy các diện tích mới đang dần được thị trường hấp thụ. Trong khi đó, tỷ lệ trống của văn phòng Hạng B duy trì ở mức tương đương cùng kỳ năm 2025.

Tái cấu trúc doanh nghiệp và tác động của công nghệ

Trong nửa đầu năm 2026, nhu cầu mở rộng và di dời vẫn đóng vai trò chủ đạo trên thị trường. Theo thống kê các giao dịch lớn do CBRE ghi nhận trong nửa đầu năm, 39% là các giao dịch với mục đích di dời, trong đó hơn 80% các khách thuê lựa chọn chuyển sang các tòa nhà Hạng A và Hạng B mới đi vào hoạt động trong vòng 2-3 năm gần đây. Nhu cầu mở rộng xếp thứ 2, chiếm 32% tổng diện tích giao dịch. Điều này cho thấy doanh nghiệp vẫn tích cực tìm kiếm các tòa nhà có chất lượng tốt hơn, vị trí thuận lợi hơn hoặc đáp ứng hiệu quả hơn các yêu cầu vận hành trong giai đoạn mới.

Bên cạnh nhu cầu mở rộng và di dời vẫn đang chiếm ưu thế, thị trường cũng ghi nhận sự gia tăng của các giao dịch thu hẹp diện tích và trả mặt bằng. Theo CBRE, giao dịch trả mặt bằng chiếm 15% tổng diện tích giao dịch trong H1 2026, trong khi giao dịch thu hẹp diện tích chiếm 7%. Xu hướng này chủ yếu xuất phát từ nhu cầu tối ưu chi phí và điều chỉnh chiến lược vận hành của doanh nghiệp trong bối cảnh kinh tế và công nghệ thay đổi nhanh chóng. Sau giai đoạn tăng trưởng mạnh, nhiều tập đoàn công nghệ đang tái cấu trúc hoạt động và rà soát chiến lược sử dụng không gian làm việc. Đồng thời, sự phát triển của AI cũng đang tác động đến kế hoạch nhân sự, mô hình vận hành và nhu cầu văn phòng, thúc đẩy các khách thuê đánh giá lại nhu cầu diện tích theo hướng linh hoạt và hiệu quả hơn. Trong bối cảnh đó, hoạt động giao dịch của thị trường năm 2026 được dự báo sẽ diễn ra thận trọng hơn và thấp hơn so với kỳ vọng ban đầu.

Triển vọng: Động lực từ Trung tâm Tài chính Quốc tế và dòng vốn ngoại

Mặc dù hoạt động thị trường văn phòng TP.HCM đang có dấu hiệu chững lại trong ngắn hạn, tiềm năng trong trung và dài hạn của thị trường vẫn được đánh giá cao nhờ vào quy hoạch IFC vừa được công bố đầu năm 2026.

Theo Bà Thanh Phạm, Giám đốc BP.Nghiên cứu & Tư vấn tại TP.HCM: “Dự kiến từ năm 2027 trở đi, khi các chính sách và hạ tầng liên quan dần hoàn thiện, khu vực IFC sẽ đóng vai trò là một trong những động lực tăng trưởng quan trọng nhất của thị trường văn phòng TP.HCM với mô hình "dual-hub", kết nối khu vực trung tâm Quận 1 với Khu đô thị mới Thủ Thiêm. IFC được kỳ vọng sẽ trở thành điểm đến của các tổ chức tài chính, doanh nghiệp đa quốc gia và các ngành dịch vụ giá trị cao. Điều này không chỉ thúc đẩy nhu cầu thuê tại khu vực trung tâm mà còn tạo động lực cho các giao dịch quy mô lớn trong các năm tới.”

Nguồn: BP. Nghiên cứu CBRE, Qúy II/2026
Nguồn: BP. Nghiên cứu CBRE, Qúy II/2026

Thị trường Bán lẻ tại TP.HCM

Thị trường bất động sản bán lẻ tại TP.HCM trong Quý 2 và nửa đầu năm 2026 không ghi nhận thêm nguồn cung mới nào được đưa vào thị trường. Giá thuê và tỷ lệ lấp đầy tiếp tục duy trì đà tăng trưởng ổn định.

Tiêu dùng nội địa giữ vững vai trò "bệ đỡ" kinh tế

Trong nửa đầu năm 2026, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo giá hiện hành ước đạt 3.889,5 nghìn tỷ đồng, tăng 12,9% so với cùng kỳ năm trước, nếu loại trừ yếu tố giá tăng 7,3% (xấp xỉ với cùng kỳ năm 2025 với mức tăng 7,4%).

Thị trường tiêu dùng nội địa tiếp tục duy trì vai trò bệ đỡ vững chắc cho nền kinh tế trong bối cảnh quy mô ngày càng lớn, tiếp tục là điểm sáng thu hút các thương hiệu bán lẻ trong và ngoài nước mở rộng chuỗi thương hiệu của mình.

Tỷ lệ trống toàn thị trường trong Q2/2026 vẫn duy trì ở mức ổn định, gần như không đổi so với quý trước, ở mức 6%. Cụ thể, khu vực trung tâm ghi nhận tỷ lệ trống ở mức 3,0%, giảm 2,2 đpt so với cùng kỳ năm trước. Mặc dù khu vực ngoài trung tâm có tỷ lệ trống cao hơn, ở mức 5,6%, nhưng vẫn thấp hơn 1,8 đpt so với cùng kỳ năm ngoái. Theo ghi nhận của CBRE, khu vực ngoài trung tâm có các nhãn hàng mới gia nhập thị trường như: Bubbly Baby Spa và BHC Chicken, hay một vài nhãn hàng tiếp tục mở rộng như  US Polo Assn., Cotti Coffee, Matsukiyo.

Giá thuê trung bình tại khu vực ngoài trung tâm tăng 2,9% so với quý trước, đạt 56,2 USD/m2/tháng, đồng thời 6,2% so với cùng kỳ năm ngoái. Giá thuê tại khu vực trung tâm cũng tăng nhẹ ở mức 288,6 USD/m2/tháng, tăng 1,2% so với quý trước và tăng 3,6% so với cùng kỳ năm trước.

Triển vọng: Áp lực nguồn cung khu vực trung tâm và làn sóng dịch chuyển ra vùng ven

Nửa cuối 2026: Áp lực khan hiếm mặt bằng tại khu vực trung tâm vẫn chưa thể hạ nhiệt. Các rào cản về pháp lý và tiến độ thi công khiến thị trường gần như không có dự án lớn nào mới đi vào hoạt động.

Tầm nhìn 2027 - 2030: Nguồn cung mới kỳ vọng sẽ được khơi thông và có xu hướng dịch chuyển mạnh mẽ ra khu vực ngoài trung tâm và các đô thị vệ tinh (như khu Đông, khu Nam hoặc dọc các trục hạ tầng kết nối Metro). Các dự án phức hợp thế hệ mới sẽ ưu tiên quỹ đất rộng tại vùng ven để tối ưu chi phí và không gian trải nghiệm.

Theo Bà Thanh Phạm, Giám đốc BP.Nghiên cứu & Tư vấn tại TP.HCM: “Trong thời gian tới, nguồn cung mặt bằng bán lẻ tại khu vực trung tâm vẫn tiếp tục ngưng đọng, giá thuê tại đây được dự báo sẽ tiếp tục neo ở mức cao và có xu hướng tăng nhẹ từ 3% – 5% mỗi năm. Khu vực trung tâm tiếp tục đón nhận các thương hiệu cao cấp mới gia nhập vào thị trường. TP.HCM vẫn là điểm đến hấp dẫn tại Đông Nam Á đối với các nhãn hàng nhờ tốc độ tăng trưởng tầng lớp trung lưu và thượng lưu tại Việt Nam.”

 

Thị trường BĐS Công nghiệp Miền Nam
(TP.HCM, Bình Dương, Đồng Nai, Long An, BR-VT)

Thị trường đất công nghiệp phía Nam đón nhận tín hiệu cải thiện ổn định về nguồn cầu và bước chuyển dịch chiến lược của dòng vốn đầu tư công nghệ cao trong 6 tháng đầu năm 2026.

Dữ liệu từ CBRE trong sáu tháng đầu năm 2026 cho thấy phân khúc bất động sản công nghiệp tiếp tục cải thiện về nguồn cầu với tổng diện tích đất hấp thụ đất công nghiệp đạt 124 ha, tăng 125% so với cùng kỳ năm trước với 83% tổng diện tích hấp thụ được ghi nhận tại Bình Dương và Đồng Nai. Khách thuê chủ yếu thuộc lĩnh vực điện-điện tử và logistics. Bên cạnh sự tăng trưởng về sức hấp thụ, thị trường còn ghi nhận bước chuyển dịch chiến lược của dòng vốn FDI tại TP.HCM (cũ), thể hiện qua việc phân bổ nguồn vốn từ các ngành gia công truyền thống sang nhóm công nghệ lõi. Sự gia tăng cam kết đầu tư vào trí tuệ nhân tạo (AI) và hạ tầng kỹ thuật số được minh chứng rõ nét qua hai dự án trọng điểm tại Khu Công nghệ cao TP.HCM (SHTP) – bao gồm dự án Data Center của nhà đầu tư Singapore (508 triệu USD) và dự án Starmason (480 triệu USD) – qua đó củng cố xu hướng tái cấu trúc chuỗi cung ứng hướng tới các nhóm ngành có hàm lượng giá trị gia tăng cao tại khu vực phía Nam.

Phân khúc kho xưởng xây sẵn miền Nam duy trì tình hình hoạt động khả quan trong nửa đầu năm 2026

Đối với phân khúc nhà kho và nhà xưởng xây sẵn (RBW/RBF), thị trường cấp 1 khu vực miền Nam ghi nhận nguồn cung mới đạt khoảng 0,47 triệu m2 trong sáu tháng đầu năm 2026, đi kèm với mức hấp thụ khả quan đạt hơn 0,37 triệu m2. Xét về cơ cấu khách thuê, nhu cầu thuê kho xây sẵn tiếp tục được dẫn dắt bởi các doanh nghiệp logistics và thương mại điện tử (e-commerce), trong khi lĩnh vực điện – điện tử vẫn chiếm tỷ trọng chủ đạo trong các giao dịch thuê nhà xưởng.

Điểm nhấn trong Quý II là giao dịch phát triển trung tâm phân loại tự động rộng hơn 60.000 m2 tại KCN Nam Thuận từ doanh nghiệp logistics và thương mại điện tử quốc tế. Dù không được tính vào tổng diện tích hấp thụ của phân khúc kho/xưởng xây sẵn truyền thống, dự án này cho thấy mô hình "xây dựng theo yêu cầu" (Built-to-Suit - BTS) đang dần trở thành giải pháp không gian chiến lược, giúp tối ưu hóa các tiêu chuẩn kỹ thuật cho những trung tâm logistics quy mô lớn.

Nhìn chung, thị trường duy trì tình hình hoạt động ổn định với tỷ lệ lấp đầy nhà xưởng đạt 91% và nhà kho đạt 80%. Về mặt bằng giá, trước áp lực cạnh tranh từ nguồn cung mới, các chủ đầu tư có xu hướng giữ giá ổn định để thu hút khách thuê. Cụ thể, giá chào thuê trung bình hầu như không biến động so với quý trước, duy trì ở mức 5,2 USD/m²/tháng đối với nhà xưởng và 5,0 USD/m²/tháng đối với nhà kho.

 

Bà Thanh Phạm, Giám đốc BP.Nghiên cứu & Tư vấn tại TP.HCM nhận định: “Năm 2026 dự kiến nguồn cung mới các sản phẩm bất động sản công nghiệp đạt mức cao, đặc biệt là phân khúc nhà xưởng xây sẵn nhờ khả năng đáp ứng linh hoạt về quy mô diện tích, thời hạn thuê cũng như tối ưu hóa chi phí và rút ngắn thời gian đưa vào vận hành cho khách thuê. Xu hướng này đồng thời phản ánh chiến lược của các chủ đầu tư khu công nghiệp trong việc đa dạng hóa danh mục sản phẩm để gia tăng sức hút đối với nhiều tệp khách hàng. Trước bối cảnh gia tăng nguồn cung, giá thuê kho xưởng xây sẵn dự báo chỉ duy trì mức tăng trưởng trong khoảng từ 2% đến 3%/năm do tính cạnh tranh về giá. Xét về dài hạn, động lực phát triển chiến lược của thị trường sẽ được dẫn dắt bởi tiến độ của các dự án hạ tầng giao thông trọng điểm và định hướng hình thành các khu thương mại tự do (FTZ). Các dự án hạ tầng trọng điểm này được kỳ vọng sẽ tái định hình bức tranh công nghiệp tại các khu vực trọng điểm mới, tiêu biểu như khu vực xung quanh Sân bay Quốc tế Long Thành và các hành lang kinh tế dọc tuyến Vành đai 3, Vành đai 4.”


Tin cùng chuyên mục

Tin nổi bật trong ngày