Khoảng trống hydrogen
Ảnh: Shutterstocks
Tiềm năng tỷ USD của hydrogen xanh vẫn chưa thể hóa thành dòng tiền.Với hơn 3.200 km bờ biển, lượng bức xạ mặt trời dồi dào và tiềm năng điện gió ngoài khơi hàng đầu khu vực, Việt Nam từng được các nhà đầu tư quốc tế kỳ vọng sẽ trở thành “trung tâm hydrogen xanh” của Đông Nam Á. Tuy nhiên, hơn 2 năm sau khi các mục tiêu năng lượng xanh được tái khởi động mạnh mẽ cùng chiến lược hydrogen quốc gia, thực tế thị trường lại đang rơi vào trạng thái tiến thoái lưỡng nan.
Điều kiện cần
Theo Chiến lược phát triển năng lượng hydrogen đến năm 2030, tầm nhìn năm 2050 (Quyết định 165/QĐ-TTg), Việt Nam đặt mục tiêu sản xuất từ 100.000-500.000 tấn hydrogen xanh mỗi năm vào năm 2030, hướng tới quy mô 10-20 triệu tấn vào năm 2050.
![]() |
Dù vậy, danh sách dự án thực sự đi vào triển khai hiện chỉ đếm trên đầu ngón tay. Dự án sản xuất hydrogen xanh tại Trà Vinh với tổng vốn đầu tư khoảng 8.000 tỷ đồng do Công ty Trách nhiệm Hữu hạn Green Solutions khởi công từ năm 2023 đến nay vẫn vướng mắc ở khâu hoàn thiện thủ tục và thu xếp vốn thương mại. Trong khi đó, hàng loạt thỏa thuận ghi nhớ (MOU) giữa các tập đoàn năng lượng lớn như Petrovietnam, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) với các đối tác Nhật, Hàn Quốc và châu Âu phần lớn vẫn dừng lại ở mức nghiên cứu tiền khả thi.
“Việt Nam có tài nguyên thiên nhiên xuất sắc để làm hydrogen xanh, nhưng tài nguyên chỉ là điều kiện cần. Điều kiện đủ là một hệ sinh thái thương mại hoàn chỉnh thì lại chưa xuất hiện”, một chuyên gia tài chính năng lượng tại Singapore nhận định.
Tại Diễn đàn Năng lượng hydrogen, Phó Giáo sư - Tiến sĩ Phạm Hoàng Lương, Phó Chủ tịch Hiệp hội Năng lượng sạch Việt Nam (VCEA), cho biết ngành hydrogen ở Việt Nam vẫn đang trong giai đoạn hình thành. Sản lượng khoảng 500.000 tấn/năm, nhưng toàn bộ là hydrogen xám và hydrogen nâu, chủ yếu phục vụ sản xuất phân bón và lọc hóa dầu.
Có nhiều rào cản trong tham vọng hydrogen của Việt Nam. Trước hết, sản xuất hydrogen xanh đòi hỏi nguồn điện tái tạo quy mô lớn, ổn định và chi phí cực thấp. Tuy nhiên, hạ tầng lưới điện Việt Nam hiện chưa thể giải tỏa toàn bộ công suất điện gió, điện mặt trời hiện hữu tại vùng duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên.
![]() |
Hơn nữa, Việt Nam hiện chưa có hệ thống đường ống chuyên dụng, kho cảng lưu trữ hóa lỏng (ở nhiệt độ -253°C) hay hạ tầng vận chuyển amoniac xanh. Chi phí đầu tư mới cho hệ thống này ước tính ngốn hàng tỷ USD, vượt quá khả năng cân đối của các doanh nghiệp trong nước. Chi phí bằng tiền sản xuất hydrogen từ công nghệ điện phân hiện dao động từ 4-6,5 USD/kg, cao gấp 3-4 lần so với hydrogen xám (sản xuất từ khí tự nhiên, giá khoảng 1,5 USD/kg).
Để dự án hydrogen có thể vay vốn ngân hàng, nhà đầu tư bắt buộc phải có hợp đồng bao tiêu dài hạn với mức giá cố định trong 15-20 năm. Tuy nhiên, các ngành công nghiệp tiêu thụ nội địa như thép, phân bón, lọc hóa dầu tại Việt Nam chưa có nghĩa vụ bắt buộc hoặc chính sách trợ giá để chuyển đổi sang nguyên liệu xanh đắt đỏ này.
Sự chậm trễ về mặt pháp lý đang là rào cản lớn nhất đối với dòng vốn ngoại. Việt Nam hiện chưa ban hành bộ quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn trong sản xuất, vận chuyển và sử dụng hydrogen, chưa có tiêu chuẩn phân loại chính thức thế nào là hydrogen xanh, cũng chưa có cơ chế mua bán điện trực tiếp (DPPA) hoàn chỉnh dành riêng cho các tổ hợp điện phân công suất lớn.
Áp lực từ cuộc đua toàn cầu
Thực trạng của Việt Nam diễn ra trong bối cảnh thị trường hydrogen xanh thế giới đang bước vào giai đoạn tăng tốc. McKinsey dự báo nhu cầu hydrogen toàn cầu có thể tăng gần gấp 5 lần vào năm 2050. Liên minh châu Âu (EU) áp dụng Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) và Chỉ thị RED III khắt khe về nguồn gốc năng lượng tái tạo. Điều này tạo ra rào cản tiêu chuẩn rất cao cho hydrogen xuất khẩu từ các nước đang phát triển. Trong khi đó, Trung Quốc bùng nổ công nghệ sản xuất thiết bị điện phân giá rẻ, hạ giá thành xuống 30-40% so với phương Tây.
Xu hướng này gia tăng sức ép cạnh tranh thiết bị, nhưng mở ra cơ hội giảm chi phí đầu tư cho Việt Nam nếu biết tận dụng. Các thị trường như Malaysia hay Úc đang nhanh chóng định hình các “hub” hydrogen nhờ khung pháp lý rõ ràng và chính sách hỗ trợ vốn trực tiếp từ chính phủ. Nếu tiếp tục chậm chân, Việt Nam đối mặt với nguy cơ mất đi làn sóng FDI năng lượng mới vào tay các đối thủ cạnh tranh trong khu vực.
Ở quy mô lớn, nhiều dự án hydrogen và amoniac xanh đang được xúc tiến tại Bình Thuận, Ninh Thuận và khu vực Cái Mép - Thị Vải. Ông Mai Huy Tân, Chủ tịch Hội đồng Quản trị kiêm Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Tư vấn Đầu tư Phát triển xanh THDV, cho rằng, một trong những hướng đi triển vọng của hydrogen xanh không chỉ nằm ở lĩnh vực năng lượng mà còn ở khả năng kết nối với nông nghiệp để hình thành chuỗi sản xuất nhiên liệu hàng không bền vững (e-SAF).
Dù vậy, động lực cho hydrogen xanh không thể chỉ đến từ sự kỳ vọng lý thuyết. Để giải bài toán “con gà - quả trứng”, giữa hạ tầng và nhu cầu tiêu thụ, cần có những bước đi mang tính đột phá về thí điểm như cơ chế sandbox hay chính sách kích cầu nội địa tạo thị trường đầu ra ổn định cho hydrogen xanh.
Chiến lược năng lượng đã có, tài nguyên đã sẵn sàng. Tuy nhiên, nếu không thể rút ngắn khoảng trống chính sách và hạ tầng, tham vọng đưa Việt Nam trở thành mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng hydrogen xanh toàn cầu sẽ khó trở thành hiện thực.
Theo dõi Nhịp Cầu Đầu Tư


